12
539

Giao tiếp liên văn hóa: Nhìn từ các hình mẫu văn hóa

Trong bài viết trước, Linh đã mang đến các thông tin cơ bản về  “Giao tiếp liên văn hóa”. Bài viết này sẽ tiếp tục mang đến những phân tích sâu hơn về giao tiếp liên văn hóa từ góc nhìn của các hình mẫu văn hóa.

Hiện nay có nhiều hướng tiếp cận trong nghiên cứu về các giá trị văn hóa. Mỗi hướng tiếp cận xác định những bản màu riêng về các giá trị văn hóa của các quốc gia, dân tộc, nhóm người. Trên cơ sở đối chiếu các nghiên cứu về văn hóa và giao tiếp liên văn hóa của các học giả phương Tây, trong phần này tôi sẽ tóm lược những giá trị văn hóa cơ bản. Tuy mang hơi hướng hàn lâm để phần nào đáp ứng sự khó tính của các nhà nghiên cứu văn hóa nếu vô tình đọc qua cuốn sách này, song đây là những hiểu biết cơ bản rất hữu ích để các bạn áp dụng giải thích hành vi của con người trong giao tiếp nói chung. Các giá trị được liệt kê ở đây sẽ là xương sống đồng hành cùng tôi và các bạn trong các câu chuyện về giao tiếp liên văn hóa ở những bài viết tiếp theo.

Mối quan hệ với cộng đồng: Chủ nghĩa cá nhân và chủ nghĩa tập thể

Chủ nghĩa cá nhân và chủ nghĩa tập thể phản ánh mỗi quan hệ giữa cá nhân với nhóm (gia đình, cơ quan, bạn bè) mà cá nhân đó thuộc về.

Chủ nghĩa cá nhân

Đối với các nền văn hóa theo khuynh hướng chủ nghĩa cá nhân, cá nhân là yếu tố then chốt thiết lập các mối quan hệ xã hội. Mối quan hệ giữa người và người được xem như những “hợp đồng quan hệ xã hội” trong đó nếu quyền lợi cá nhân của một bên bị vi phạm thì “hợp đồng” có thể bị đơn phương chấm dứt, kể cả quan hệ gia đình, bạn bè thân thiết. Các quyết định về những sự kiện quan trọng của đời người như học tập, công việc, kết hôn đều do cá nhân tự quyết định, không phụ thuộc vào người khác. Chủ nghĩa cá nhân coi trọng không gian tự do cá nhân và sự riêng tư.

Trong giao tiếp, do đề cao cái “tôi” cá tính độc đáo, những người theo chủ nghĩa cá nhân có xu hướng diễn đạt quan điểm cá nhân một cách trực tiếp với tính trách nhiệm cá nhân cao; lối suy nghĩ thường theo tư duy logic, phân loại, nhân – quả.

Trong học tập, quan hệ kinh doanh, các nền văn hóa theo chủ nghĩa cá nhân chú trọng vào kết quả cuối cùng, quá trình làm việc dựa trên sự cạnh tranh. Quan hệ công việc và đời sống riêng tư được phân biệt rõ ràng, không ảnh hưởng lẫn nhau. Các khu vực như Bắc Mỹ, Bắc và Tây Âu, Úc, New Zealand có nền văn hóa theo chủ nghĩa cá nhân.

Chủ nghĩa tập thể

Ngược lại với chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa tập thể đề cao vai trò của tập thể, tập thể là yếu tố then chốt làm nên các mối liên kết trong xã hội. Trong các nền văn hóa tập thể, sự đề cao vai trò cá nhân được xem là ích kỷ, các cá nhân thường ưu tiên lợi ích, hòa khí trong cộng đồng hơn là nhu cầu, lợi ích cá nhân khi đưa ra quyết định. Người theo chủ nghĩa tập thể thường giữ thể diện cho không chỉ cá nhân mình mà còn của người cùng tham gia quá trình giao tiếp và của nhóm mà mình thuộc về.

Không gian riêng tư thường không được coi trọng bằng các mối quan hệ xã hội trong cộng đồng, con người có xu hướng liên kết, chia sẻ không gian và xích lại gần nhau khi ở nơi công cộng, trong sinh hoạt và đời sống.

Vì đề cao việc giữ thể diện của nhau và giữ hòa khí trong tập thể, người theo chủ nghĩa tập thể thường tránh lối diễn đạt trực tiếp, chú trọng các mối quan hệ trong từng hoàn cảnh giao tiếp, nhấn mạnh “chúng tôi” thay vì cái tôi cá nhân trong phát ngôn.

Trong học tập, kinh doanh, người theo chủ nghĩa tập thể thường chú trọng cân nhắc các mối quan hệ bên cạnh các số liệu chính xác để đưa ra quyết định. Việc xây dựng các mối quan hệ dài hạn, bền lâu là rất quan trọng. Chủ nghĩa tập thể phổ biến trong các nền văn hóa Châu Á, Châu Phi, Trung Á, Nam và Trung Mỹ.

Hoàn cảnh giao tiếp: Giao tiếp chú trọng hoàn cảnh và giao tiếp không chú trọng hoàn cảnh

Nền văn hóa chú trọng hoàn cảnh giao tiếp thường đề cao yếu tố hoàn cảnh giao tiếp. Thông điệp thường được truyền tải bằng hình thức phi ngôn từ và ẩn chứa nhiều quy chuẩn, giá trị, niềm tin. Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Việt Nam, Hy Lạp và A Rập là những nền văn hóa chú trọng hoàn cảnh giao tiếp.

Ngược lại, nền văn hóa không chú trọng hoàn cảnh giao tiếp thường chú trọng vào nội dung thông tin truyền tải trong ngôn từ. Các nền văn hóa như Đức, Mỹ thường không chú trọng hoàn cảnh giao tiếp.

Nhận thức về thời gian

Thời gian tuyến tính (linear time): Trong nền văn hóa nhận thức thời gian theo chiều tuyến tính như Đức, Mỹ, Scandinavi, thời gian được tính toán theo định lượng giây, phút, giờ, ngày, tháng rất chi tiết. Đây là sản phẩm của nền công nghiệp phát triển sớm ở các nước phương Tây. Giá trị đóng góp cho xã hội được con người tạo ra theo từng phút trôi qua nên thời gian là vàng bạc. Con người trong nền văn hóa này rất tuân thủ lịch trình làm việc, không thích trễ giờ.

Thời gian linh hoạt (flexible time, multi – active time): Con người trong nền văn hóa nhận thức thời gian một cách linh hoạt như Hy Lạp, Ả Rập, Ý, Thổ Nhĩ Kỳ thường không khắc khe về thời gian hay lịch trình làm việc. Họ chú trọng vào mối quan hệ và cảm giác của con người trong giao tiếp hơn là khoảng thời gian giao tiếp.

Thời gian chu kỳ (cycle time): Phát triển từ nền nông nghiệp lâu đời, các nước phương Đông thường đo thời gian theo chu kỳ như các mùa trong năm, vòng đời con người từ khi mới sinh ra đến lúc chết đi, chu kỳ phát triển công việc. Việc đưa ra quyết định trong nền văn hóa này là kết quả của nhiều lần lật giở, đắn đo chứ không nhanh gọn và dứt khoát như nền văn hóa nhận thức thời gian theo chiều tuyến tính.

Chủ động – thụ động trong giao tiếp

Chủ động đơn phương (linear-active): Công việc được thực hiện từng việc một theo chuỗi hành động, đúng lịch trình, kế hoạch.

Chủ động đa phương (multi-active): Con người thuộc này văn hóa này thường nói nhiều, làm nhiều việc cùng một lúc theo giờ giấc cảm tính. Ho không khắc khe về giờ giấc làm việc.

Phản ứng thụ động (reactive): Con người thuộc này văn hóa này thường nghe nhiều, nói ít, thu thập thông tin cẩn trọng rồi mới nói. Họ rất thận trọng, tránh diễn đạt trực tiếp vấn đề trong giao tiếp ứng xử. Việt Nam là điển hình tiêu biểu trong nhóm phản ứng thụ động.

Ba hinh thai van hoa mo hinh Lewis

3 hình thái văn hóa trong mô hình Lewis

Khoảng cách quyền lực

Cách một xã hội nhận thức và ứng xử với sự bất bình đẳng quyền lực giữa người với người được gọi là khoảng cách quyền lực. Quyền lực này được hình thành thông qua phân cấp, phân tầng xã hội, học vấn, chức vụ. Nền văn hóa có khoảng cách quyền lực lớn thường trao quyền quyết định, uy thế cho người có vị trí quyền lực cao hơn. Ứng xử được phân theo thứ bậc rõ ràng. Ngược lại, con người trong nền văn hóa có khoảng cách quyền lực nhỏ có sự bình đẳng, hợp tác, không chú trọng vào thứ bậc.

Tóm lại, sự khác biệt giữa các nền văn hóa được nhận định dựa trên các hình mẫu văn hóa đặc trưng: (1) Chủ nghĩa cá nhân – chủ nghĩa tập thể, (2) Giao tiếp chú trọng hoàn cảnh và giao tiếp không chú trọng hoàn cảnh, (3) Nhận thức về thời gian, (4) Tính chủ động – thụ động trong giao tiếp, và (5) Khoảng cách quyền lực. Bằng những hình mẫu văn hóa đặc trưng này, chúng ta có thể giải thích các hiện tượng xung đột trong quá trình giao tiếp liên văn hóa.

Hiện có một số hướng nghiên cứu nổi bật về hình mẫu văn hóa được áp dụng để nghiên cứu về giao tiếp liên văn hóa.

(1) Mô hình của Kluckhohn và Strodtbeck (1961) định hình 5 vấn đề trong đời sống con người: con người với bản chất bẩm sinh, con người trong mối quan hệ với tự nhiên, nhận thức về thời gian, phương thức hoạt động của con người, con người trong mối quan hệ xã hội (Trompenaars và Hampden-Turner có dẫn lượt lại mô hình này trong cuốn Riding the waves of culture: Understanding cultural diversity in global business).

(2) Edward Hall (1976) cho rằng văn hóa là một dạng của giao tiếp trên cơ sở các quy luật ngầm, gồm có: giao tiếp chú trọng hoàn cảnh văn hóa (chủ yếu sử dụng ngôn từ) hoặc không chú trọng hoàn cảnh văn hóa (chủ yếu sử dụng các hình thức biểu đạt phi ngôn từ, các mối quan hệ xã hội).

(3) Geert Hofstede (1997) phân loại các chiều văn hóa thành 4 khía cạnh: tính cá nhân – tính tập thể, khoảng cách quyền lực, mức độ e ngại rủi ro, nam tính – nữ tính, định hướng ngắn hạn – định hướng dài hạn.

(4) Mô hình Lewis (1996) chia đặc tính các nền văn hóa thành 3 dạng dựa trên thái độ của con người trong giao tiếp: chủ động đơn phương (linear-active), chủ động đa phương (multi-active), và phản ứng thụ động (reactive).

Linh Bùi

Bản thảo đầu tiên: Niigata, Nhật Bản, tháng 6/2017

Chỉnh sửa và đăng: Đà Nẵng, tháng 7/2019


Tài liệu tham khảo

Hall, E. T. (1976). Beyond culture. New York: Doubleday.

Hofstede, G. (1997) Cultures and Organizations: Software of the Mind, London: McGraw-Hill.

Kluckhohn, F. R. & Strodtbeck, F. L. (1961). Variations in value orientations. Evanston, IL: Row, Peterson.

Lewis Richard, D. (1996). When cultures collide. Managing successfully across cultures, London.

Show Comments

No Responses Yet

Leave a Reply