2
110

Kinh nghiệm viết hồ sơ học bổng du học: Bí kíp ngôn ngữ

 

tim thong tin hoc bong

Trong phim 13 ngày (Thirteen days) (2000) của đạo diễn Roger Donaldson, tôi rất ấn tượng một phân cảnh giữa hai nhân vật Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Mỹ McNamara và Tư lệnh tác chiến Hải quân Đô đốc Anderson nói về ngôn ngữ giao tiếp.

Bối cảnh phim là 13 ngày giữa tháng 10 năm 1962 khi chính quyền Mỹ do Tổng thống Kennedy đứng đầu đối phó với với cuộc khủng hoảng tên lửa Cuba. Khi phát hiện Liên Xô đang lắp đặt trên lãnh thổ Cuba hệ thống tên lửa U-2 mang đầu đạn hạt nhân có thể phóng hủy diệt một phần nước Mỹ, Kennedy đã quyết định phong tỏa Cuba. Chính sách này không cho phép tàu Liên Xô đi vào lãnh hải Cuba để cung cấp thiết bị lắp đặt vũ khí, nếu tàu Liên Xô đi qua ranh giới thì hải quân Mỹ sẽ bắn pháo ngăn cản.

Tuy nhiên, trong bối cảnh chiến tranh lạnh phân bàn cờ thế giới thành hai cực đối lập do Mỹ và Liên Xô đứng đầu, bất cứ phía nào có hành động quân sự trước, chẳng hạn bắn phá tàu chiến đối phương, xem như khơi mào chiến tranh thế giới thứ 3 – cuộc chiến vũ khí hạt nhân – hủy diệt cả nhân loại.

Lúc bấy giờ, chiến tranh lạnh và mạng thông tin liên lạc hạn chế khiến Tổng thống Mỹ Kennedy và Bí thư thứ nhất Đảng Cộng Sản Liên Xô Khrushchev không có bất cứ sự liên lạc trực tiếp nào để giải quyết khủng hoảng. Trong tình huống Đô đốc Hải quân Anderson dù chưa nhận lệnh trực tiếp từ Kennedy đã cho bắn pháo chỉ thiên đe dọa một tàu Liên Xô vi phạm lệnh phong tỏa, Bộ trưởng Quốc phòng McNamara đã gào lên với Anderson: “Tại sao ông lại ra lệnh bắn pháo khi chưa có lệnh của Tổng thống? Dù là bắn pháo chỉ thiên thì phía Liên Xô cũng có thể nhầm lẫn rằng tàu Mỹ đang bắn hủy diệt tàu của họ. Đây không phải là một cuộc phong tỏa, đây là một ngôn ngữ, một từ vựng mới mà các từ tương tự như thế thế giới chưa bao giờ thấy. Đây là cách Tổng thống Kennedy đang giao tiếp với Bí thư Khrushchev”. Kennedy ngồi ở Nhà Trắng nói chuyện với Khrushchev ở Điện Kremlin bằng hành động của những chiếc tàu chiến giữa Thái Bình Dương.

Khi xin học bổng du học, hồ sơ của bạn hay cuộc phỏng vấn với đại diện tổ chức trao học bổng là một chiếc tàu chiến như vậy. Đó là cách duy nhất để các bạn gõ cửa, giao tiếp với tổ chức trao học bổng, nói cho họ biết mình là ai, tính cách như thế nào, xuất sắc ra sao và mình muốn gì. Nếu bạn hiểu tổ chức trao học bổng và có được một cuộc giao tiếp tốt, bạn sẽ giành được phần thắng trong cuộc đua với những ứng cử viên khác.

Trước khi nhận học bổng JDS năm 2015, tôi đã hai lần thất bại khi xin học bổng JDS và Australia Awards Scholarship (AAS của Chính phủ Úc) năm 2014. Trong giới săn học bổng, từ khóa phổ biến nhất được tìm kiếm trên các diễn đàn có lẽ là “kinh nghiệm thành công khi xin học bổng A, B, C”, song tôi nghĩ có lẽ bạn nên thử bắt đầu với từ khóa “kinh nghiệm thất bại khi xin học bổng”. Tôi nhận ra điều này khi dành thời gian đọc lại các hồ sơ xin học bổng bị trượt lúc làm hồ sơ JDS lần thứ 2. Tôi đã sửng người tự hỏi sao mình lại làm những hồ sơ học bổng kém đến vậy. Thiếu sót của tôi chính là không đáp ứng được những đặc tính văn hóa trong ngôn ngữ và các tiêu chí học thuật.

Trước khi du học, vì chỉ đạt 5.5 IELTS nên viết hồ sơ xin học bổng là một thử thách lớn đối với tôi. Mặc dù tôi đã rất cố gắng cải thiện kỹ năng viết, cách diễn đạt gián tiếp, vòng vo, thiếu sự nổi bật cá nhân trong tư duy người Á Đông vẫn ảnh hưởng đến các bài luận của hồ sơ.

Ngôn ngữ ảnh hưởng đến cách con người nhìn ra thế giới[1]. Các nước nói tiếng Anh bản địa phần lớn thuộc nền văn hóa theo chủ nghĩa cá nhân, không chú trọng hoàn cảnh giao tiếp, diễn đạt trực tiếp, cởi mở, hướng thẳng đến mục đích nói. Trong tiếng Anh, ngôi xưng “I” (tôi) và các từ có tính chất khẳng định như “absolutely” (hoàn toàn), “certainly” (chắc chắn), “positively” (rõ ràng, tuyệt đối) được sử dụng phổ biến thể hiện đặc tính văn hóa này[2].

Trong khi đó, các nước Á Đông trong đó có Việt Nam thuộc nền văn hóa theo chủ nghĩa tập thể, chú trọng hoàn cảnh giao tiếp với lối diễn đạt gián tiếp, vòng vo. Ngôi xưng trong tiếng Việt vô cùng đa dạng (tôi, anh, em, con, cháu, tớ) phản ánh thứ bậc cũng như mối quan hệ của cá nhân với gia đình, bạn bè, xã hội. “Chúng tôi”, “chúng ta”, “có lẽ”, “có thể” là những từ được dùng phổ biến trong giao tiếp là một cách để cá nhân lẫn trốn trong hình hài của tập thể. (Mời các bạn đọc thêm bài viết về ảnh hưởng của các hình mẫu văn hóa đến giao tiếp tại đây).

Tôi đã mang nếp nghĩ của một nền văn hóa chú trọng hoàn cảnh giao tiếp và một cái tôi cá nhân bị lu mờ trong thành tích tập thể để viết hồ sơ học bổng, trong khi đó người đọc lại thuộc về nền văn hóa mang các thuộc tính đối lập.

Bạn hãy viết hồ sơ học bổng của mình bằng lối hành văn tiếng Anh trực tiếp, trả lời thẳng vào câu hỏi, không mô tả kể lể vòng vo. Cái tôi cá nhân của bạn là viên ngọc lấp lánh với nhiều ưu điểm, vì vậy đừng ngại đánh bóng nó bằng cách viết chân thật và thẳng thắn. Tham khảo lối hành văn từ các hồ sơ mẫu là một cách để hạn chế khuyết điểm “nghĩ gì dịch nấy” mà người Việt hay mắc phải khi viết tiếng Anh.

Tuy nhiên, nên hạn chế cóp nhặt quá nhiều vì bạn sẽ khiến cái tôi của mình mang dáng hình của rất nhiều cá nhân quen quen mà người xét duyệt hồ sơ năm nào cũng gặp. Bài luận khúc chiết với những nét lấp lánh phản ánh cái tôi cá nhân của bạn chính là ngôn ngữ giao tiếp cực kỳ hiệu quả với người xét duyệt học bổng ở phía bên kia biên giới.

Chúc bạn trang bị được cho mình một “chiếc tàu chiến” hiện đại, mạnh mẽ để ra trận xin học bổng nhé!

 

JDS gap mat

Nhóm sinh viên nhận học bổng JDS khóa 2015-2017 hội ngộ tại Tokyo trong khuôn khổ chương trình gặp mặt cuối khóa do JICE tổ chức, tháng 3/2017

Linh Bùi

Bản thảo đầu tiên: Niigata, Nhật Bản, tháng 6/2017

Chỉnh sửa và đăng: Đà Nẵng, tháng 7/2019


Tài liệu tham khảo

[1] Đây là một trong những quan điểm nổi tiếng của của Edward Sapir (1921) và Benjamin Whorf (1956) về mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa.

Sapir, E. (1921). Language: An Introduction to the study of speech. New York: Harcourt, Brace.

Whorf, B.L. (1956). Language, Thought and Reality. Selected Writings. Ed.: J.B. Carroll. MIT, New York: J.Wilky/London:
Chapinaon & Hall.

[2] Okabe, R. (1983). Cultural assumptions of East and West: Japan and the United State in Gudykunst, W. B. (1983). Intercultural Communication Theory: Current Perspectives. International and Intercultural Communication Annual, Volume VII. Sage Publications, Inc., 275 South Beverly Dr., Beverly Hills, CA 90212

Show Comments

No Responses Yet

Leave a Reply