8
70

Đọc Bùi Kiến Thành – Hãy thắp lên ngọn đèn của mỗi chúng ta

Bui Kien Thanh - Nguoi mo khoa lang du

Một lần đến thăm Bảo tàng thành phố Hồ Chí Minh, tôi đã ấn tượng mạnh mẽ phân cảnh trưng bày về giai đoạn 1954-1975. Bảo tàng dành một phần diện tích khá lớn cho cảnh ngày thống nhất đất nước 30/4/1975. Đó là bức tranh vẽ Dinh Thống Nhất và chiếc xe tăng mang số hiệu 390 tông thẳng vào cổng Dinh. Đoàn quân cách mạng trên chiếc xe tăng được nhân dân Sài Gòn chào đón trong niềm vui hân hoan với cờ hoa rực rỡ. Đối nghịch với sắc màu vinh quang của đoàn quân cách mạng là chiếc tủ kính trưng bày ngổn ngang quân dụng của quân đội Việt Nam Cộng hòa và lính Mỹ. Một màu xám xịt với súng, mũ, ba lô, bi đông nước… gợi lại hình ảnh đường phố Sài Gòn tan tác sau ngày giải phóng. Tôi chú tâm đến một tờ giấy khen lẻ loi bị kẹp giữa đống quân dụng, lộ phần góc chữ ký ghi tên Tổng thống Việt Nam Cộng hòa Ngô Đình Diệm.

Tôi giật mình. Đống ngổn ngang và chữ ký trên tờ giấy khen vất vưởng là những hiện vật hiếm hoi tại Bảo tàng thể hiện vai trò quản lý của một thực thể nhà nước từng tồn tại ở miền Nam Việt Nam suốt 21 năm 1954-1975. Không còn tài liệu hay hiện vật nào khác cho thấy thực thể nhà nước đó đã hình thành và tồn tại như thế nào, kinh tế – xã hội phát triển ra sao. Lịch sử gắn với thăng trầm của một vùng đất và bao phận người chìm nổi trong bão lửa chiến tranh sẽ ra sao với những mảng màu loang lổ, mờ nhòe? Nhìn sang bức ảnh sĩ quan Mỹ tháo chạy khỏi Sài Gòn, tôi tự hỏi: phép nhiệm màu nào đã giúp Mỹ và Việt Nam hàn gắn quan hệ sau một cuộc chiến quá đỗi ám ảnh như vậy? Và hơn hết, ngoài những trang sử ghi lại máu và nước mắt mà dân tộc Việt Nam đã ngã xuống để thống nhất hai miền Nam – Bắc thì thế hệ chúng tôi cần thấy điều gì khác để xây dựng cuộc sống hôm nay tốt đẹp hơn?

Tôi đã giữ những câu hỏi đó cho đến khi phần nào được trả lời bởi cuốn “Bùi Kiến Thành – Người mở khóa lãng du” của nhóm tác giả Lê Xuân Khoa, Xuân Chi và Thanh Huyền.

Bùi Kiến Thành là ai? Sinh năm 1931 tại Quảng Nam, Bùi Kiến Thành là bạn cố tri của Tổng thống Việt Nam Cộng hòa Ngô Đình Diệm. Ông là chính khách trẻ nhất thuộc nhóm những trí thức đầu tiên giúp Thủ tướng Ngô Đình Diệm xây dựng chính quyền năm 1954. Ông cũng là người góp phần mở đường cho chính sách “Đổi mới” khôi phục quyền tự do dân doanh năm 1986, trực tiếp tham gia vào tiến trình bình thường hóa quan hệ Việt – Mỹ. Đặc biệt, Bùi Kiến Thành đã góp phần xây dựng cơ sở pháp lý bảo vệ chủ quyền lãnh hải và thềm lục địa Việt Nam. Hiện ông là chuyên gia kinh tế tài chính, tham gia tư vấn nhiều chương trình, dự án kinh tế tại Việt Nam.

“Bùi Kiến Thành – Người mở khóa lãng du” kể về gia đình, cuộc đời, sự nghiệp của bác Thành, như cách xưng hô mà Bùi Kiến Thành trìu mến dành cho nhóm tác giả và độc giả. Câu chuyện bắt đầu từ thuở bác còn là cậu bé ngỗ nghịch được nuôi nấng bởi hai dòng họ có danh thế đất Quảng Nam – họ ngoại là quan nhà Nguyễn, họ nội là điền chủ – đến khi trưởng thành, tham gia chính trường, bôn ba nơi xứ người và tới thời điểm hiện nay là chuyên gia kinh tế tài chính. Thông qua câu chuyện cuộc đời bác, chúng ta được quay về với những khúc quanh và nút thắt lịch sử để thấy sự hình thành, phát triển và sụp đổ của Việt Nam Cộng hòa dưới thời Ngô Đình Diệm (1954-1963) cũng như quá trình trở mình đổi mới của nước Việt Nam thống nhất sau 1975. Giá trị của những dữ liệu này nằm ở chỗ chúng ta được nghe từ lời kể của một nhân chứng lịch sử – một người trong cuộc đã sống hết mình và máu lửa, dù gia đình và bản thân có nhiều mất mát do thời cuộc nhưng vẫn luôn nghĩ về lợi ích dân tộc, mong muốn đem lại sự đổi thay tốt đẹp cho đất nước.

Bác Thành có nhiều cơ hội định cư và làm việc lâu dài ở nước ngoài nhưng mỗi khi có thể đóng góp cho sự phát triển của đất nước bác đều sẵn lòng trở về. Chàng trai trẻ tốt nghiệp Đại học Columbia và có cơ hội làm việc tại Đại học Cornell (cả hai đều là trường hàng đầu của Mỹ trong lĩnh vực tài chính và kinh doanh) đã chọn quay về nước để giúp Ngô Đình Diệm xây dựng chính quyền. Giữa lúc đang làm đại diện Ngân hàng Quốc gia Việt Nam Cộng hòa tại Mỹ với nhiều quyền lực trong tay, bác Thành trở lại Việt Nam để phát triển Ngân hàng Quốc gia, sau đó chuyển sang lĩnh vực bảo hiểm, góp phần phát triển khu vực kinh tế tư nhân ở miền Nam Việt Nam. Thời điểm năm 1975, lúc này đang định cư ở Pháp, bác Thành đã ngỏ ý “tôi có thể về Việt Nam hợp tác, hỗ trợ gì cho các anh nhằm tái thiết đất nước không?”. Để rồi, năm 1991, sau 26 năm xa Tổ Quốc, cánh chim không mỏi chính thức trở về đất mẹ với vai trò là người kết nối quan hệ Việt – Mỹ, mở đầu cho thời kỳ tham gia tư vấn nhiều chương trình, dự án đóng góp cho sự phát triển kinh tế Việt Nam. Tôi nghĩ những ngã rẽ về với Tổ Quốc mà bác Thành đã đi không phải là sự đẩy đưa của số phận mà là sự lựa chọn của một trí thức yêu nước luôn sẵn lòng làm người mở khóa cho những điểm nghẽn của thời cuộc.

Nhìn lại quá khứ, bác Thành đã có những đánh giá rất khách quan về sự thất bại của chính quyền Việt Nam Cộng hòa. Cũng là cái nhìn của người trong cuộc nhưng Trần Lệ Xuân trong Madam Nhu Trần Lệ Xuân – Quyền lực bà Rồng của Monique Brinson Demery có phần chua chát, cuồng nộ và đầy cảm tính khi nói về vấn đề này. Âu cũng là nỗi niềm của người phụ nữ quá khát khao quyền lực nhưng bất lực trước sóng gió thời đại. Ở bác Thành, chúng ta cũng cảm nhận được nỗi chua xót, ngậm ngùi nhưng đằng sau đó là sự tỉnh táo của một chính khách – trí thức hiểu được quy luật thịnh suy. Trong hồi tưởng “Mầm mống của sự sụp đổ” “Lâu đài bằng cát”, bác Thành đã chỉ ra mấy lý do dẫn đến sự lụi tàn của chính quyền Việt Nam Cộng hòa: gia đình trị, tổ chức và con người thiếu nền móng tư tưởng và lý tưởng, sai lầm trong cách dùng người, tham nhũng, bị trí thức quay lưng và nhân dân “ruồng bỏ”. Đặc biệt, nguyên nhân quan trọng nhất là vấn đề tổ chức đảng có danh mà không có hồn cốt. Nỗi xót xa của bác Thành khi ký kiến nghị giải tán Văn phòng Trung ương Đảng Cần Lao Nhân Vị cũng như những nhận định, so sánh của bác giữa cách Ngô Đình Nhu xây dựng Đảng Cần Lao Nhân Vị và cách Hồ Chí Minh xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam là tài liệu rất giá trị cho những ai nghiên cứu về chính trị và lịch sử. Những điều bác Thành đúc kết chính là bài học đáng suy ngẫm cho những người thực tế làm lãnh đạo, quản lý và tổ chức đảng dù ở bất cứ thời đại và xã hội nào.

Tôi nghĩ các bạn học về kinh tế, tài chính, ngân hàng và cả các nhà nghiên cứu lịch sử kinh tế sẽ có nhiều điều tâm đắc khi đọc cuốn sách này. Là một trong những người Việt Nam đầu tiên được đào tạo về ngân hàng trung ương tại Mỹ và nhiều năm làm việc cho Ngân hàng Quốc gia, bác Thành khái quát một cách rất dễ hiểu về hoạt động của ngân hàng trung ương chỉ trong mấy trang sách (tôi là người đọc không có nhiều kiến thức trên lĩnh vực này nhưng vẫn thấy dễ tiếp nhận). Cuốn sách cũng mô tả khá chi tiết sự vận hành của nền kinh tế miền Nam Việt Nam thông qua cơ chế viện trợ xuất nhập khẩu của Mỹ. Bên cạnh đó, những câu chuyện thú vị về hoạt động kinh doanh của nhà thuốc bác sĩ Tín, Công ty Bảo hiểm AIU, Công ty Sản xuất Ắc qui Việt Nam (tiền thân của Công ty PINACO hiện giờ), Công ty Phân bón Việt Nam (khai thác phân chim ở đảo Hoàng Sa)… giúp phác họa phần nào sự sôi động của khối kinh tế tư nhân ở miền Nam Việt Nam trước 1975.

Qua câu chuyện cuộc đời bác Thành, tôi hiểu hơn những nỗ lực vượt bậc của đất nước trên chặng đường gian nan từ đêm tối bước ra đổi mới. Tôi đã hồi hộp khi đọc đến cuộc trao đổi về quan điểm mấu chốt để bác tham gia xây dựng chính sách cho Đổi mới 1986: “một là mình đồng ý với nhau về tư tưởng dân giàu nước mới mạnh, còn nếu không đồng ý thì không có gì để nói với nhau nữa”. Đối với thế hệ đã được thừa hưởng thành quả của kinh tế thị trường như chúng ta bây giờ thì “Dân có giàu thì nước mới mạnh” là câu cửa miệng. Thế nhưng, đặt trong hoàn cảnh đất nước còn nghèo với chính sách ngăn sông cấm chợ, quốc hữu hóa tư liệu sản xuất những năm 1980-1981 thì đó là sự táo bạo, thậm chí mạo hiểm. Nếu không có sự mạnh bạo, quyết đoán để “mặc cả” tư tưởng, của không chỉ bác Thành mà của cả thế hệ lãnh đạo tiên tiến những năm 80, thì thật khó để đi đến con đường “Vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” mà chúng ta đang đi hôm nay.

Cũng như lời bác Thành thổ lộ ở đầu sách, tôi rất thích cách truyền tải câu chuyện của nhóm tác giả. Bằng cách kết hợp phong cách tự truyện và phỏng vấn báo chí, các tác giả khiến người đọc có cảm giác như được cùng ngồi nghe nhân vật kể chuyện. Trên trang chữ vừa là nét cười tinh anh, cuốn hút của một trí thức gạo cội, tài hoa, vừa là sự thâm trầm, khoáng đạt của một người đã qua nhiều bể dâu, chìm nổi. Những đoạn hồi tưởng về tuổi ấu thơ, tình bạn, tình yêu xen giữa các chủ đề kinh tế, chính trị, lịch sử giúp câu chuyện nhẹ nhàng hơn, dễ đi vào lòng người. Chỉ tiếc là vì một khuôn khổ nào đó, nhóm tác giả chưa thể chuyển tải hết những trăn trở về đời người và thời cuộc vẫn còn ẩn chứa đâu đó trong lòng nhân vật nên tôi có cảm giác câu chuyện kết thúc nhưng lời gửi gắm vẫn chưa trọn vẹn.

Gấp trang sách lại, tôi bị lây cảm giác “tiếc” của bác Thành. Tiếc vì những dự án dở dang thập niên 90 về hoạt động khai thác dầu khí ở vùng biển xa thềm lục địa, một cảng mang tầm vóc quốc tế ở Vịnh Vân Phong, hay cuộc đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển đảo chưa đi xa như mong đợi,… Thế nhưng, xin cảm ơn bác vì tinh thần lạc quan và máu lửa bác truyền cho thế hệ trẻ. Tôi cũng rất muốn cảm ơn sự đầu tư công phu, tâm huyết của nhóm tác giả, bác Thành và nhiều người khác đằng sau cánh gà ủng hộ dự án này. Thế hệ trẻ cần được biết về những cuộc đời âm thầm như vậy, để những lúc lòng chùng xuống thì lại tiếp tục lạc quan, bản lĩnh thắp lên ngọn đèn của mình. “Không nên nguyền rủa bóng tối mà hãy thắp lên một ngọn đèn. Mỗi người thắp lên một ngọn đèn, có được 100 ngọn đèn, 1000 ngọn đèn nó sẽ sáng ra”./.

By Linh Bùi

Tháng 8/2019

Show Comments

No Responses Yet

Leave a Reply